學則 Quy chế đào tạo
元培醫事科技大學學則 |
Quy chế đào tạo Trường Đại học Công nghệ Y tế Yuanpei |
|
|
第一篇 總則 第二篇 大學部 |
PHẦN I: QUY TẮC CHUNG ĐIỀU 1: Trường Đại học Công nghệ Y tế Yuanpei (dưới đây gọi tắt là nhà trường) căn cứ theo Luật Đại học, hướng dẫn chi tiết về thi hành Luật Đại học, Luật cấp văn bằng, hướng dẫn chi tiết về thi hành Luật cấp văn bằng và các quy định liên quan để lập ra quy chế đào tạo Đại học Công nghệ Y tế Yuanpei (dưới đây được gọi là “quy chế này”), căn cứ vào đó để xử lý hồ sơ học sinh sinh viên và các việc liên quan. PHẦN II: KHỐI ĐẠI HỌC CHƯƠNG I NHẬP HỌC ĐIỀU 2: Bắt đầu mỗi một năm học, nhà trường sẽ công khai tổ chức thi tuyển Học sinh mới các khoa của năm thứ nhất hệ 4 năm và năm thứ 3 hệ tiếp nối 2 năm; đồng thời cũng sẽ tổ chức thi tuyển cho các khoa của hệ 4 năm và học sinh chuyển trường của các khoa thuộc hệ 2 năm, quy định tuyển sinh sẽ được lập riêng và sẽ thực thi sau khi được Bộ Giáo dục phê chuẩn. ĐIỀU 3: Học sinh từng tốt nghiệp trường trung cấp tư và công lập Đài Loan hoặc trường trung cấp có cấp tương đương trở lên hoặc có các bằng cấp tường đường sau khi trúng tuyển nhập học được vào học năm thứ 1 hệ 4 năm của nhà trường: (1) Đã hoàn thành chương trình đào tạo của các trường bổ túc dạy nghề trực thuộc Trường Trung học phổ thông công lập hoặc tư thục được nhà nước cấp phép (gồm trường bổ túc đào tạo từ xa) hoặc lớp kỹ năng thực tế (nguyên là lớp đào tạo hướng nghiệp mở rộng), được cơ quan hành chính chủ quản về giáo dục cấp Giấy chứng nhận tư cách, hoặc học sinh tốt nghiệp các trường bổ túc dạy nghề trực thuộc Trường Trung học phổ thông. ĐIỀU 4: Những học sinh sinh viên mới (học sinh chuyển trường) đã trúng tuyển phải đến trường làm thủ tục nhập học vào thời gian quy định; nếu hết hạn không đến làm thủ tục, sẽ bị hủy tư cách nhập học. ĐIỀU 5: Học sinh sinh viên nhập học bằng văn bằng của nước ngoài, nhà trường sẽ căn cứ theo “Biện pháp công nhận trình độ học lực nước ngoài theo quy định của khối trường đại học” do Bộ Giáo dục ban hành để xác nhận tư cách nhập học của học sinh, cũng được tuyển sinh học sinh nước ngoài theo quy định liên quan của “Biện pháp học sinh nước ngoài tới Đài Loan theo học” cũng theo quy định của Bộ Giáo dục, biện pháp nhập học của học sinh nước ngoài sẽ được lập riêng và trình Bộ Giáo dục phê duyệt. ĐIỀU 6: Nhà trường phải căn cứ theo “Biện pháp công nhận trình độ học lực khu vực Trung Quốc đại lục” do Bộ Giáo dục ban hành để xác nhận tư cách nhập học của học sinh khu vực Trung Quốc đại lục, cũng được tuyển sinh học sinh khu vực Trung Quốc đại lục theo quy định liên quan của “Biện pháp người dân khu vực Trung Quốc đại lục đến Đài Loan theo học trường trung cấp trở lên”. ĐIỀU 7: Học sinh đang theo học tại trường và học sinh các trường đại học của nước ngoài sau khi được phê chuẩn có thể căn cứ theo “Biện pháp thực thi chương trình liên kết giữa nhà trường với các trường đại học nước ngoài” cùng lúc có thể theo học chương trình liên kết để lấy bằng kép của cả trường đại học trong nước và nước ngoài, sẽ xây dựng quy định riêng cho vấn đề này. ĐIỀU 8: Khi học sinh mới đến đăng ký nhập học, phải nộp bộ hồ sơ chứng nhận trình độ học lực đã hoàn tất chứng nhận công chứng và còn thời hạn hiệu lực mới được nhập học, nếu có lý do chính đáng, người đã xin trước để được gia hạn nộp giấy tờ và đã được chấp thuận, có thể nhập học trước, nhưng phải nộp bổ sung giấy tờ trong thời hạn quy định, nếu không cũng sẽ bị hủy tư cách nhập học. ĐIỀU 9: Học sinh sinh viên mới (hoặc học sinh sinh viên chuyển trường) do bị bệnh nặng hoặc vì lý do đặc biệt không thể nhập học đúng thời gian, vào trước khi hết hạn đăng ký nhập học có thể gửi nộp các giấy tờ chứng minh liên quan và sau khi đã được nhà trường chấp thuận, sẽ được bảo lưu tư cách nhập học trong vòng 1 năm; người mang thai, sinh nở hoặc nuôi con nhỏ dưới 3 tuổi và có giấy tờ chứng minh, thời gian bảo lưu tư cách nhập học sẽ tùy thuộc vào nhu cầu mang thai, sinh nở hoặc nuôi con dưới 3 tuổi của học sinh; không cần phải nộp bất cứ khoản lệ phínào. ĐIỀU 10:Học sinh tốt nghiệp Trung học phổ thông có tham gia “Chương trình tài khoản tiết kiệm giáo dục và việc làm thanh niên” sau khi thi đỗ vào trường, xin được bảo lưu tư cách nhập học hoặc sau khi nhập học xin nghỉ học tạm thời, thìthời hạn là 3 năm và không được tính vào tư cách bảo lưu nhập học của điều 9 hoặc thời gian bảo lưu theo điều 40. ĐIỀU 11:Học sinh sinh viên mới nếu có sự gian lận trong kỳ thi nhập học và đã được xác minh, kết luận đúng có sự việc đó hoặc hồ sơ giấy tờ nhập học đã nộp có sự giả mạo, giả danh, tẩy xóa sửa chữa, qua xác minh là đúng học sinh sẽ bị đuổi học. Nếu sau khi tốt nghiệp trường này mới bị phát hiện, ngoài việc thu hồi lại bằng tốt nghiệp theo quy định của pháp luật, cũng sẽ công bố hủy tư cách tốt nghiệp của học sinh sinh viên đó. ĐIỀU 12:Học sinh sinh viên của trường nếu bất ngờ gặp phải thiên tai tai nạn nghiêm trọng theo nhận định của cơ quan chủ quản về giáo dục, sau khi được hội nghị giáo vụ đưa ra nghị quyết, thìsẽ lập quy định riêng về cơ chế theo học linh hoạt đối với tư cách và việc dự thi kỳ thi nhập học của học sinh này, đăng ký, nộp tiền, chọn môn học, xin nghỉ, thi kiểm tra kết quả học tập và miễn giảm học phần, bảo lưu, thôi học, đi học trở lại, hoàn trả phí, thời hạn đào tạo và điều kiện tư cách tốt nghiệp. CHƯƠNG II: Đăng ký, chọn môn, chuyên ngành bổ trợ, 2 chuyên ngành song song ĐIỀU 13:Học sinh sinh viên cùng lúc đăng ký nhập học vào hai trường trong nước phải nộp hồ sơn xin phép, nếu trưởng khoa hoặc Viện trưởng Viện Đào tạo sau đại học của nhà trường đồng ý, được đơn vị giáo vụ và Trưởng Phòng Giáo vụ phê chuẩn thì được phép có tư cách theo học tại hai trường cùng lúc. ĐIỀU 14:Trước ngày bắt đầu vào học theo lịch trình quy định của nhà trường, học sinh sinh viên phải hộp các chi phí theo quy định, việc đăng ký nhập học coi như đã hoàn thành sau khi đóng tiền. Sau khi đăng ký nhập học nếu học sinh sinh viên bảo lưu hoặc thôi học có lý do, tiêu chuẩn hoàn phísẽ thực hiện theo quy định của Bộ Giáo dục. Học sinh thuộc trường hợp đặc biệt đã được phê duyệt gia hạn nộp phí, hoặc học sinh sinh viên không thuộc khóa sắp tốt nghiệp nhưng đã làm đơn xin khoản vay tín dụng học sinh sinh viên mà không được duyệt, nếu trong thời gian đã gia hạn không nộp hết số tiền học phí và phụ phí cần phải nộp, thì học kỳ đó sẽ bị buộc phải nghỉ học tạm thời (đình chỉ học tập), tới học kỳ sau nộp đủ số tiền còn thiếu mới được làm thủ tục đăng ký nhập học. Trường hợp trên nếu là học sinh sinh viên thuộc khóa sắp tốt nghiệp thìtạm thời sẽ không cấp bằng tốt nghiệp, cho tới khi nào học sinh sinh viên đó nộp đủ số tiền cần nộp mới cấp bằng tốt nghiệp. ĐIỀU 15:Học sinh sinh viên phải làm thủ tục đăng ký theo ngày quy định, nếu bị ốm hoặc có lý do đặc biệt phải có giấy tờ chứng minh, người đã được chấp thuật cho nghỉ trước sẽ được gia hạn đăng ký, với thời gian lâu nhất là 2 tuần. Không được chấp thuận cho nghỉ hoặc đã quá thời hạn cho nghỉ mà không đăng ký sẽ coi như không có nguyện vọng theo học, nếu là học sinh sinh viên mới sẽ hủy bỏ tư cách nhập học, học sinh sinh viên cũ nếu chưa xin nghỉ học tạm thời thì sẽ bị cho thôi học. Trước khi xử lý cho thôi học Phòng Giáo vụ phải thông báo cho học sinh có liên quan được biết. ĐIỀU 16:Việc chọn môn của học sinh sinh viên phải tuân thủ quy định chọn môn của các khoa và các quy định chọn môn liên quan, biện pháp chọn môn của khoa và biện pháp thực thi chọn môn liên trường sẽ được quy định riêng. ĐIỀU 17:Những môn mà học sinh sinh viên chọn bổ sung hoặc hủy chọn môn, phải tuân thủ theo biện pháp chọn môn trong thời hạn được quy định của mỗi một học kỳ, nếu quá thời hạn quy định sẽ không được chấp nhận. Học sinh sinh viên nếu không làm thủ tục chọn bổ sung, hủy chọn môn học, sẽ không được công nhận học phần, kết quả của môn học mà Học sinh tự hủy môn không đúng quy định sẽ bị tính 0 điểm. Học sinh không được vìchọn bổ sung, hủy chọn môn mà dẫn đến việc số lượng học phần phải học của mình bị vượt quá hoặc ít hơn tổng số học phần quy định của mỗi học kỳ. Những học phần vượt quá tổng số học phần quy định mỗi học kỳ mà học sinh sinh viên đã học sẽ không được công nhận phải làm thủ tục hủy chọn môn. Nếu tổng số học phần phải học của học kỳ này của học sinh sinh viên không đủ, sau khi được thông báo mà không cải thiện, thìhọc kỳ đó phải nghỉ học tạm thời. ĐIỀU 18:Học sinh sinh viên không được học các môn có ảnh hưởng lẫn nhau về thời gian lên lớp, nếu không, kết quả các môn học bị trùng giờ lên lớp đều sẽ được tính 0 điểm. Nếu học lại những môn đã học đạt yêu cầu hoặc môn có cùng tên gọi đã được phê chuẩn miễn giảm, thìhọc phần học lại không được tính vào số lượng học phần tối thiểu phải học để xét đủ điều kiện được tốt nghiệp. ĐIỀU 19:Học sinh theo học trình độ cử nhân được chọn chuyên ngành bổ trợ và chọn bổ sung 2 chuyên ngành song song, quy định về vấn đề này sẽ được lập riêng và trình Bộ Giáo dục kiểm tra. CHƯƠNG III: Số năm theo học, học phần, thành tích học tập ĐIỀU 20:Nhà trường áp dụng chế độ năm học và học phần Về nguyên tắc giới hạn số năm theo học của các khoa hệ 4 năm là 4 năm, tối thiểu phải học đủ 128 học phần; về nguyên tắc giới hạn số năm theo học của các khoa hệ 2 năm là 2 năm, tối thiểu phải học đủ 72 học phần. Trong thời hạn số năm theo học theo quy định, những học sinh sinh viên không thể học đủ số học phần quy định, được gia hạn thời hạn theo học, tối đa được gia hạn thêm 2 năm học. Học sinh sinh viên được cấp sổ tay người khuyết tật, do tình trạng tâm lý và sức khỏe cũng như nhu cầu học tập, số năm tối đa được gia hạn thời gian theo học là 4 năm. Ngoài ra nếu học sinh sinh viên mang thai, sinh nở hoặc nuôi dưỡng con dưới 3 tuổi, được gia hạn số năm theo học. Học sinh sinh viên tốt nghiệp các trường trung học phổ thông của nước ngoài hoặc Hongkong, Macau cùng cấp cùng loại, có năm tốt nghiệp tương đương với năm thứ 2 của trường trung học phổ thông trong nước của Đài Loan, được nhập học vào lớp cử nhân của nhà trường với tư cách học lực tương đương, nhưng phải học thêm 12 học phần so với tổng số học phần để xét đủ điều kiện tốt nghiệp. ĐIỀU 21: Các học phần phải học nhưng không tính điểm gồm thể dục, huấn luyện quân sự giáo dục quốc phòng toàn dân và giáo dục lao động. ĐIỀU 22: Việc tính học phần của các khoa, trên nguyên tắc học đủ 18 tiếng được tính là 1 học phần; thực tập hoặc thínghiệm mỗi tuần 2-3 tiếng được tính ĐIỀU 23: Số học phần học sinh sinh viên phải học mỗi học kỳ được quy định như sau: 1. Các năm thứ nhất, thứ 2 và thứ 3 của hệ đại học ban ngày không được ít hơn 16 học phần, không được nhiều hơn 25 học phần; năm thứ 4 không được ít hơn 9 học phần, không được nhiều hơn 25 học phần. 2. Đối với chương trình thực tập ngoài nhà trường trong suốt học kỳ mà học sinh tham gia, số lượng học phần đã học của học kỳ đó không chịu giới hạn nêu trên, nhưng không được ít hơn số học phần thực tập mà khoa đã quy hoạch. 3. Những học sinh kỳ trước có điểm hạnh kiểm, thành tích học tập bình quân đạt 80 điểm trở lên, và không có môn nào không đạt yêu cầu, học kỳ tiếp theo sau khi được chủ nhiệm khoa phê chuẩn sẽ được chọn thêm học phần của 1 đến 2 môn. ĐIỀU 24: Thi và kiểm tra thành tích học tập của học sinh sinh viên, chia ra làm 3 loại như sau: 1. Kiểm tra thông thường: Giáo viên bộ môn có thể tiến hành bất cứ lúc nào bằng các hình thức như kiểm tra viết, kiểm tra miệng, xem nội dung ghi chép bài vở, báo cáo hoặc phương thức trả lời câu hỏi. 2. Thi giữa kỳ: triển khai vào thời gian quy định giữa học kỳ 3. Thi giữa kỳ: triển khai vào thời gian quy định cuối học kỳ 4. Báo cáo học kì: Do giảng viên xem xét yêu cấu mà chỉ định Các môn học thực tập, thực nghiệm, làm bản vẽ thiết kế được miễn thi, thành tích được tính bằng cách tính gộp tích lũy điểm kiểm tra thường ngày. Các tiêu chuẩn và phương pháp đánh giá kết quả học tập của học sinh và tỷ lệ điểm số học kỳ của các hạng mục trước đó do giáo viên xác định trong đề cương môn học. Sinh viên sắp tốt nghiệp được tham gia các khóa học với các lớp khóa dưới và các kỳ thi cuối khóa của họ sẽ vẫn được tổ chức cùng lúc với các lớp khóa dưới. ĐIỀU 25:Thành tích học tập của học sinh gồm 2 phần là thành tích học tập (bao gồm thực tập, thínghiệm) và điểm hạnh kiểm. Á p dụng nguyên tắc tính điểm theo thang điểm 100. Với số điểm 100 là tối đa, 60 điểm là đạt yêu cầu. Thành tích học tập của học sinh sinh viên cũng áp dụng phương pháp tính hạng bậc, phương pháp tính điểm theo thang điểm 100. Bảng đối chiếu phương pháp tính hạng bậc và phương pháp tính theo thang điểm G.P.A như sau: Số điểm Phương pháp tính hạng bậc Phương pháp tính theo thang điểm 100 G.P.A. 4 Hạng A Từ 80 điểm trở lên đến 100 4 điểm 3 Hạng B Từ 70 điểm trở lên đến dưới 3 80 điểm 2 Hạng C Từ 60 điểm trở lên đến dưới 2 70 điểm 1 Hạng D Từ 50 điểm trở lên đến dưới 1 60 điểm 0 Hạng E Dưới 50 điểm 0 ĐIỀU 26:Những người có kết quả học tập không đạt yêu cầu, thì đều không được thi lại, cũng không được tính học phần; các môn bắt buộc (gồm môn thể dục, môn huấn luyện quân sự giáo dục quốc phòng toàn dân) nếu không đạt yêu cầu thìphải học lại. ĐIỀU 27:Phương pháp tính thành tích học tập bình quân các kỳ và điểm tốt nghiệp như sau: 1. Lấy số học phần của môn học nhân với điểm của môn đó sẽ là tổng số điểm của môn đó. 2. Tổng số học phần của các môn đã học mỗi học kỳ là tổng số học phần của học kỳ đó. 3. Tổng số điểm của các môn đã học mỗi học kỳ là tổng số điểm của học kỳ đó. 4. Lấy tổng số điểm của học kỳ chia cho tổng số học phần của học kỳ thì chính là kết quả học tập bình quân của kỳ đó (không gồm học phần và kết quả học hè). 5. Tổng điểm của các học kỳ (gồm cả kỳ học hè) chia cho tổng số học phần của các học kỳ cộng lại (gồm cả kỳ học hè) là kết quả tốt nghiệp. 6. Cách tính thành tích học tập bình quân của các học kỳ và kết quả tốt nghiệp, là đã bao gồm các môn không đạt yêu cầu trong đó. 7. Cách tích tổng thành tích G.P.A: số học phần của các môn nhân với tổng điểm rồi chia cho tổng số học phần đã học. ĐIỀU 28:Các thành tích của học sinh sinh viên mà giáo viên đã hoàn thành đánh giá không được sửa đổi sau khi đã gửi cho Tổ Đăng ký Phòng Giáo vụ. Nhưng nếu do đăng ký nhầm hoặc tính nhầm, sẽ do giáo viên bộ môn căn cứ theo Biện pháp thực thi thao tác sửa đổi thành tích của nhà trường để tiến hành sửa đổi sau khi được hội nghị giáo vụ xét duyệt thông qua. ĐIỀU 29:Những học sinh sinh viên vắng mặt trong kỳ thi cuối kỳ, kết quả cuối kỳ của môn vắng mặt bỏ thi sẽ bị tính 0 điểm. Người vắng mặt trong kiểm tra hàng ngày và trong kỳ thi giữa kỳ, thì kết quả của phần vắng mặt, cũng sẽ bị tính 0 điểm. ĐIỀU 30:Nếu các thành tích có số thập phân, thìsẽ làm tròn số theo cách tính 4 bỏ 5 giữ, thành tích học tập bình quân của học kỳ và kết quả tốt nghiệp làm tròn theo kiểu lẻ 4 làm tròn xuống, lẻ 5 làm tròn lên, chỉ lấy một chữ số thập phân sau dấu phẩy. ĐIỀU 31: Chương trình mà học sinh sinh viên sẽ học trong cả năm học, nếu thành tích của kỳ trước không đạt yêu cầu, thì sẽ tùy theo quy định của các khoa để quyết định có cho học sinh sinh viên học tiếp chương trình đó vào học kỳ tiếp theo hay không. ĐIỀU 32:Trong thời gian diễn ra kỳ thi nếu học sinh sinh viên bị bệnh phải nằm viện hoặc do điều kiện bất khả kháng không thể dự thi, người xin được hoãn thi phải căn cứ theo quy định xin nghỉ và sau khi đã được chấp thuận, phải thi bù nhưng giới hạn chỉ được thi bù 1 lần. Nếu đã xin thi bù, không được vắng mặt không thi với bất cứ lý do gì. Người thi bù có kết quả đạt yêu cầu, đổi với trường hợp nghỉ vì việc công, bệnh nặng phải nằm viện, nghỉ đẻ, hoặc người thân có quan hệ huyết thống trực hệ của học sinh sinh viên hoặc của vợ/chồng học sinh sinh viên hoặc vợ/chồng của người thân trực hệ đó qua đời, thìsẽ được lấy điểm theo số điểm thi thực tế; còn lại những trường hợp khác sẽ lấy 60 điểm làm cơ số căn bản, phần thành tích thi vượt 60 điểm sẽ được lấy 50%. Người không đạt yêu cầu sẽ tính theo số điểm thực tế nhận được. Học sinh vìmang thai, sinh nở hoặc nhu cầu nuôi dưỡng con nhỏ dưới 3 tuổi, mà được chấp thuận cho xin nghỉ, thìviệc vắng mặt trong các kỳ thi sẽ không bị trừ điểm; đến khi số giờ không lên lớp vượt quá 1/3 số giờ học của cả học kỳ, thìthành tích của môn học đó có thể tùy theo yêu cầu và tính chất của môn học để xử lý linh hoạt bằng cách thi bù hoặc áp dụng các giải pháp hỗ trợ khác, kết quả thi bù sẽ được tính dựa trên kết quả thi thực tế. ĐIỀU 33:Học sinh nếu do bị bệnh nặng phải nằm viện không thể tham gia kỳ thi cuối kỳ, cũng không thể thi bù theo đúng thời hạn, dẫn tới trước ngày khai giảng của kỳ học tiếp theo, không thể lấy được thành tích, thì phải gửi kèm giấy tờ xác nhận bệnh viện công lập hoặc bệnh viện kết hợp giảng dạy, làm thủ tục xin với Tổ Đăng ký và được Trưởng phòng Giáo vụ phê chuẩn, học kỳ không thể tham gia thi cuối kỳ có thể được coi là nghỉ học tạm thời. ĐIỀU 34:Trường hợp học sinh sinh viên có hành vi gian lận trong kỳ thi, sẽ xử lý theo quy chế thi, quy chế thi sẽ được lập riêng. ĐIỀU 35:Học sinh sinh viên nếu vì môn học không đạt yêu cầu phải học lại, do chuyển trường, chuyển khoa phải học bù môn, học sinh sinh viên khóa sắp tốt nghiệp (hoàn thành khóa đào tạo) mà phải học lại hoặc học bù rồi mới được tốt nghiệp (hoàn thành khóa đào tạo), thì có thể tham gia lớp học vào kỳ nghỉ hè, lớp học hè sẽ có quy định riêng. ĐIỀU 36:Các bài thi tại trường của học sinh sinh viên, sẽ do nhà trường bảo quản trong vòng 1 năm, để kiểm tra tham khảo khi cần, hoặc để cơ quan chủ quản hành chính giáo dục có thể xem khi cần. Những thành tích của học sinh sinh viên phải được đăng ký đầy đủ, và được lưu giữ vĩnh viễn, nhưng với trường hợp có khiếu nại, phải lưu giữ cho tới khi quy trình khiếu nại kết thúc hoặc quy trình trợ giúp hành chính kết thúc. CHƯƠNG IV: Xin nghỉ, bảo lưu, đi học trở lại, thôi học. ĐIỀU 37:Học sinh có lý do không thể đi học, phải xin nghỉ theo quy định, trường hợp được phê chuẩn xin nghỉ thì được tính là nghỉ học, trường hợp chưa xin nghỉ hoặc xin nghỉ không được phê chuẩn mà không lên lớp thìbị coi là trốn học (vắng mặt không có lý do). ĐIỀU 38:Học sinh nếu có một trong những tình hình dưới đây, thì sẽ bị cho nghỉ học tạm thời (đình chỉ học tập): 1. Từ ngày bắt đầu phải đi học, số giờ vắng mặt đã đạt tới 1/3 tổng số giờ học của học kỳ đó. Nhưng người được phê chuẩn cho phép nghỉ sinh con, thì không thuộc giới hạn này. 2. Người do hội nghị Ủy ban sự vụ Học sinh của nhà trường đưa ra quyết định cho nghỉ học tạm thời. ĐIỀU 39: Học sinh sinh viên bị buộc phải nghỉ học tạm thời tính theo đơn vị học kỳ, trên nguyên tắc tổng số thời gian nghỉ học tạm thời là 2 năm học (4 học kỳ), hết hạn thời gian nghỉ học tạm thời 2 năm học, nếu do bị bệnh nặng hoặc do các lý do đặc biệt khác không thể đi học trở lại đúng hạn, thìphải gửi giấy tờ chứng minh để xin được gia hạn thêm 1 năm học theo phương án xét duyệt riêng. ĐIỀU 40:Học sinh sinh viên nghỉ học tạm thời, khi đi học trở lại phải theo học năm nối tiếp với khoa (tổ) hoặc học kỳ đang bỏ dở. Người nghỉ học tạm thời vào giữa học kỳ, khi đi học trở lại, phải quay lại theo học năm học hoặc học kỳ ban đầu đang bỏ dở. Thành tích trong học kỳ nghỉ học tạm thời đó không được tính. Được gọi đi nghĩa vụ quân sự trong thời nghỉ học tạm thời, phải gửi kèm bản copy lệnh triệu tập để xin gia hạn thời hạn nghỉ học tạm thời, sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự phải gửi lệnh xuất ngũ để xin đi học trở lại. Học sinh nghỉ học tạm thời do mang thai, sinh con hoặc do nhu cầu nuôi dưỡng con nhỏ dưới 3 tuổi, phải gửi kèm bản gốc chứng nhận chẩn đoán hoặc giấy khai sinh để xin gia hạn thời hạn nghỉ học tạm thời, thì thời gian nghỉ học tạm thời đó sẽ không tính vào thời hạn nghỉ học tạm thời. ĐIỀU 41:Học sinh sinh viên căn cứ theo các quy định pháp luật về nghĩa vụ quân sự của Bộ Nội chính, làm thủ tục hoãn gọi nghĩa vụ quân sự và triệu tập sau theo các quy định về gọi đi nghĩa vụ. ĐIỀU 42:Học sinh hết thời hạn nghỉ học tạm thời mà không đi học trở lại được coi là bỏ học. ĐIỀU 43:Học sinh nếu có lý do cá nhân, có thể xin nghỉ học tạm thời; trường hợp vị thành niên phải được sự đồng ý của phụ huynh hoặc người giám hộ. ĐIỀU 44:Học sinh sinh viên có một trong những tình hình đưới đây, sẽ bị cho thôi học: 1. Quá hạn nhưng không đăng ký hoặc người hết hạn nghỉ học tạm thời mà không đi học trở lại. 2. Hết thời hạn phải hoàn thành chương trình đào tạo, nhưng vẫn chưa học đủ số môn học và học phần quy định của khoa (tổ). 3. Số học phần của môn có thành tích học tập theo học kỳ không đạt yêu cầu, có đến 2/3 số học phần của hai học kỳ liên tiếp không đạt yêu cầu (bao gồm học sinh thông thường, học sinh kiều bào, học sinh nước ngoài, học sinh về nước từ khu vực Mông Cổ Tây Tạng để học chuyển cấp, học sinh dân tộc nguyên trú, con cái của viên chức được cử đi nước ngoài và sinh viên có thành tích thể thao xuất sắc đạt điều kiện theo quy định của Bộ Giáo dục.) 4. Người có hạnh kiểm không đạt yêu cầu. 5. Chưa được nhà trường đồng ý nhưng cùng lúc đăng ký nhập học vào trường khác. 6. Vi phạm quy định của nhà trường với tình tiết nặng, được hội nghị của Ủy ban khen thưởng và xử phạt học sinh đưa ra quyết định cho thôi học. 7. Không thuộc các trường hợp ở trên mà là tự xin thôi học. 8. Những trường hợp khác phải cho thôi học theo quy chế đạo tạo này. Học sinh thuộc một trong những trường hợp dưới đây không thuộc hạn chế của khoản 3 mục 1 của điều này: 1. Học sinh được gia hạn theo học có số môn phải học của một học kỳ (từ) 9 học phần trở xuống. 2. Người có sổ tay người khuyết tật. 3. Trường hợp hợp mang thai, sinh con hoặc nuôi con bú có kèm theo giấy tờ chứng minh xác nhận. ĐIỀU 45:Học sinh sinh viên vì có lý do phải tự xin thôi học, người vị thành niên phải được sự đồng ý của phụ huynh hoặc người giám hộ, thì mới được làm thủ tục xin thôi học. ĐIỀU 46:Học sinh sinh viên xin thôi học nếu đã theo học đủ 1 học kỳ nhưng chưa hoàn thành chương trình đào tạo, trường hợp học bạ đã được phê chuẩn thìsẽ được cấp xác nhận đã theo học. Người bị đuổi học sẽ không cấp bất cứ giấy tờ chứng nhận đã theo học nào. ĐIỀU 47:Học sinh bị cho thôi hoặc hoặc bị đuổi học, nếu có ý kiến, có thể khiếu nại theo “Biện pháp xử lý khiếu nại của học sinh” thuộc quy định của nhà trường. CHƯƠNG V: CHUYỂN KHOA, CHUYỂN TRƯỜNG ĐIỀU 48:Sinh viên đại học vào đầu học kỳ 1 của năm thứ nhất có thể xin chuyển khoa theo quy định. Giới hạn chỉ được chuyển khoa 1 lần, người xin chuyển khoa hạ cấp không được xin nâng cấp, số năm cùng lúc học 2 khoa sẽ không được tính gộp vào số năm theo học tối đa của khoa chuyển đến. Sinh viên chuyển khoa phải học đủ số môn, số học phần và tiêu chuẩn đủ điều kiện tốt nghiệp theo quy định của khoa chuyển đến, thì mới được tốt nghiệp. Biện pháp xin chuyển khoa sẽ được lập riêng. ĐIỀU 49:Khi các khoa của nhà trường tuyển sinh chưa đạt chỉ tiêu, có thể tuyển học sinh chuyển trường, quy định chiêu sinh liên quan sẽ được lập riêng, và tổ chức kỳ thi chuyển trường sau khi trình lên được Bộ Giáo dục phê chuẩn. Học sinh bị buộc thôi học do vi phạm khoản 6 mục 1 điều 45 của quy chế đào tạo này, không được báo danh dự thi kỳ thi chuyển trường của nhà trường. Việc không đạt chỉ tiêu tuyển sinh nêu trên là không bao gồm việc thiếu chỉ tiêu gây ra bởi bảo lưu tư cách nhập học, nghỉ học tạm thời hoặc do tăng thêm chỉ tiêu; sau khi tổ chức tuyển sinh học sinh chuyển trường, tổng số học sinh không được vượt quá tổng số học sinh mới nhập học được phê chuẩn ban đầu của năm năm học đó, đồng thời chất lượng giáo viên của các khoa vẫn phải đáp ứng được các tiêu chuẩn được thiết lập về tổng quy mô phát triển và tiêu chuẩn điều kiện nguồn lực của trường trung cấp trở lên. CHƯƠNG VI: TỐT NGHIỆP, BẰNG CẤP ĐIỀU 50:Học sinh sinh viên đáp ứng các điều kiện dưới đây, mới được tốt nghiệp: 1. Hết thời hạn theo học, đã học đủ số môn và số học phần bắt buộc cần học theo quy định, đồng thời thông qua mọi kỳ thi kiểm tra năng lực theo quy định của nhà trường và quy định của các khoa, thành tích đạt yêu cầu, sẽ phê duyệt cho tốt nghiệp. Do nhà trường căn cứu theo quy định liên quan cấp chứng nhận trình độ cử nhân, đồng thời cấp bằng chứng nhận. Quy định về thi kiểm tra năng lực của nhà trường và của các khoa sẽ được lập riêng. 2. Sinh viên có thể đăng ký các khóa học về các lĩnh vực chuyên môn do trường cung cấp, hoàn thành các môn học và tín chỉ tự chọn theo yêu cầu của trường, và vượt qua các kỳ thi đánh giá năng lực khác nhau do trường và các trường cao đẳng yêu cầu, và đạt điểm số mới được phép tốt nghiệp. Trường sẽ cấp bằng cử nhân phù hợp với các quy định và chuyên môn liên quan, và chứng chỉ bằng cấp sẽ được cấp với trường cao đẳng là đơn vị cấp bằng. "Những điểm chính để thực hiện trường cao đẳng với tư cách là đơn vị cấp bằng" của trường chúng tôi được quy định riêng. 3. Học sinh có thành tích xuất sắc, đáp ứng được các tiêu chuẩn dưới đây, học sinh hệ hai năm phải tốt nghiệp trước 1 năm, học sinh hệ 4 năm phải tốt nghiệp trước 1 học kỳ hoặc 1 năm học, Biện pháp tốt nghiệp sớm của học sinh có thành tích xuất sắc sẽ được lập riêng và được thực thi sau khi Bộ Giáo dục đã kiểm tra. (Người muốn tốt nghiệp trước 1 học kỳ vào tháng 10, muốn tốt nghiệp sớm 1 năm học vào tháng 4 tới đăng ký xin làm thủ tục với Tổ Đăng ký Phòng Giáo vụ). (1) Đã học đủ tất cả số học phần. (Bao gồm môn bắt buộc và môn tự chọn) (2) Thành tích học tập bình quân mỗi học kỳ đạt 80 điểm trở lên. (3) Thành tích hạnh kiểm bình quân đạt 80 điểm trở lên. (4) Thành tích các môn bắt buộc gồm môn thể dục, môn huấn luyện quân sự giáo dục quốc phòng toàn dân bình quân đạt 70 điểm trở lên. (5) Bậc xếp hạng mỗi học kỳ đều thuộc Top 5% sinh viên đứng đầu lớp. ĐIỀU 52: Trường hợp học sinh sinh viên khóa sắp tốt nghiệp học phần còn thiếu phải học lại hoặc học bù vào kỳ 2 thời hạn được gia hạn theo học, thì trong học kỳ 1 được xin nghỉ học tạm thời, không phải đăng ký, người đã đăng ký tối thiểu phải chọn học 1 môn. Học sinh sinh viên nếu theo học các môn vào đúng học kỳ thi tốt nghiệp, phải giao kết quả khi kết thúc học kỳ, và phải đáp ứng đủ điều kiện tốt nghiệp, thì mới được xin tốt nghiệp và rời khỏi trường. PHẦN III: KHỐI TU NGHIỆP CHƯƠNG I NHẬP HỌC ĐIỀU 53: Tư cách học lực của tu nghiệp sinh ngoài việc phải đáp ứng được các quy định liên quan của điều 3 thuộc quy chế đào tạo này, ngoài ra cũng phải căn cứ theo quy định về hướng dẫn tuyển sinh của mỗi năm. CHƯƠNG II: ĐÓNG TIỀN, ĐĂNG KÝ, CHỌN MÔ N ĐIỀU 54:Tu nghiệp sinh tại chức nếu trúng tuyển, khi đăng ký nhập học phải nộp các giấy tờ chứng nhận liên quan theo quy định của hướng dẫn tuyển sinh, nếu không sẽ không được nhập học. ĐIỀU 55:Học sinh mỗi học kỳ đều phải nộp tiền học và tiền phụ phí theo học phần. CHƯƠNG III: Số năm theo học, học phần, thành tích học tập ĐIỀU 56:Số năm theo học; hệ 2 năm trên nguyên tắc theo học 3 năm, tối thiểu phải học 2 năm, tối đa được gia hạn thêm 2 năm. Hệ 4 năm trên nguyên tắc theo học 4 năm, tối đa được gia hạn thêm 2 năm. ĐIỀU 57: Lớp tu nghiệp tại chức mỗi năm học được chia thành 2 học kỳ 1 và 2, về nguyên tắc là lên lớp vào buổi tối, cũng có thể lên lớp vào ban ngày. Số học phần theo học của học sinh trong mỗi học kỳ không được vượt quá 9 học phần, tối đa thực hiện theo quy định của khối học ban ngày, số lượng học phần của mỗi kỳ nghỉ hè không được vượt quá 10 học phần. Vào học kỳ cuối trong thời hạn theo học, học sinh tham gia chuyên đề (làm chuyên đề, nghiên cứu và thực tập), thì số lượng học phần theo học của học kỳ đó không chịu hạn chế theo quy định của mục trước, nhưng vẫn không được ít hơn 3 ĐIỀU 58: Những môn học và học phần mà trước khi nhập học, học sinh đã theo học đạt yêu cầu sẽ được miễn giảm theo quy định của Biện pháp miễn giảm học phần, số học phần của những môn đã đạt yêu cầu mà học sinh học lại, sẽ không được tính. ĐIỀU 59: Trung tâm giáo dục khuyến học của nhà trường được mở lớp giáo dục khuyến học, bao gồm lớp tính học phần, lớp không tính học phần, và thành lập tiểu ban thẩm tra giáo dục khuyến học. Chương trình và số giờ lên lớp của lớp tính học phần và sẽ thực hiện theo các quy định liên quan; học viên theo học đủ thời hạn sau khi thi đỗ, sẽ cấp chứng chỉ học phần, sau khi trúng tuyển kỳ thi nhập học, nhà trường sẽ xem xét miễn giảm số học phần đã học, và cấp văn bằng chứng chỉ theo quy định. ĐIỀU60: Những nội dung chưa được đề cập tới, sẽ thực hiện theo các quy định liên quan của quy chế đào tạo. PHẦN IV: VIỆNĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC CHƯƠNG I NHẬP HỌC Người tốt nghiệp các trường đại học công lập hoặc trường tư thục được nhà nước cấp phép, học viện độc lập hoặc trường đại học nước ngoài được công nhận theo quy định của Bộ Giáo dục Đài Loan đã có bằng cử nhân hoặc có tư cách trình độ học vấn tương đương theo quy định, nếu thi đỗ kỳ thi nhập học hoặc được xét tuyển vào lớp thạc sĩ của viện đào tạo sau đại học, có thể theo học tại lớp thạc sĩ viện đào tạo sau đại học của nhà trường. CHƯƠNG II : ĐĂNG KÝ, CHỌN MÔN ĐIỀU 61:Việc chọn môn của học viên thạc sĩ được thực hiện theo quy định của các viện đào tạo sau đại học. ĐIỀU 62:Số lượng học phần phải học mỗi học kỳ của học viên thạc sĩ sẽ do các khoa (viện đào tạo sau đại học) lập quy định. Nhưng các học kỳ của năm thứ nhất không được dưới 2 chương trình hoặc dưới 4 học phần, và không được vượt quá 18 học phần. CHƯƠNG III: Số năm theo học, học phần, thành tích học tập ĐIỀU 63:Số năm theo học của học viên lớp thạc sĩ là từ 1 đến 4 năm; lớp tiến sĩ là 2 đến 7 năm nhưng học viên diện tu nghiệp tại chức, nếu hết thời hạn theo học quy định mà chưa học hết số chương trình phải học hoặc chưa hoàn thành luận văn tốt nghiệp, thì có thể được gia hạn thêm 1 năm. ĐIỀU 64:Học viên lớp thạc sĩ ít nhất phải học đủ 28 học phần, tiến sĩ là 18 học phần trong đó chưa bao gồm học phần của luận văn tốt nghiệp. Số lượng học phần đủ điều kiện tốt nghiệp sẽ do các khoa (viện đào tạo sau đại học) lập quy định, và thực thi sau khi được hội nghị giáo vụ thông qua. ĐIỀU 65:Thành tích học tập của học viên thạc sĩ lấy thang điểm 100 là điểm tuyệt đối, 70 điểm hoặc loại B là đạt yêu cầu; thành tích của những môn học cơ bản của khối đại học mà học viên thạc sĩ học bổ sung được tính học phần cho tổng thành tích thi học kỳ và thi tốt nghiệp đối với người đạt yêu cầu, nhưng sẽ không tính vào số học phần tối thiểu phải học để xét điều kiện được tốt nghiệp. Bình quân giữa thành tích học tập bình quân và kết quả kỳ thi lấy bằng, sẽ là kết quả thi tốt nghiệp. ĐIỀU 66:Phương pháp đánh giá điểm hạnh kiểm của học viên thạc sĩ sẽ được quy định riêng tại quy tắc học tập. ĐIỀU 67:Sát hạch tư cách học viên thạc sĩ và kỳ thi lấy bằng được thực hiện căn cứ theo Biện pháp thi lấy bằng của học viên lớp thạc sĩ của nhà trường, Biện pháp thi lấy bằng của học viên lớp thạc sĩ phải trình lên Bộ Giáo dục kiểm tra. CHƯƠNG IV: Xin nghỉ, bảo lưu, đi học trở lại, thôi học. ĐIỀU 68:Học viên thạc sĩ bảo lưu tư cách nhập học, gia hạn thời hạn theo học, xin nghỉ, nghỉ học tạm thời, đi học trở lại và xử lý vấn đề vi phạm quy định của nhà trường, sẽ được thực hiện theo các nội dung liên quan thuộc Phần II của quy chế này. Nếu có lý do không thể đi học, phải xin nghỉ theo quy định, người được phê chuẩn cho nghỉ sinh con, phải tùy theo nhu cầu và tính chất của môn học để thi bù hoặc áp dụng các biện pháp linh hoạt khác, thành tích của học viên đó sẽ được tính dựa trên thành tích thực tế. Nghiên cứu sinh hoàn thành các môn học và số tín chỉ quy định trong số năm quy định, đạt yêu cầu kiểm tra trình độ nghiên cứu sinh và trình bày luận án, người trúng tuyển tiến sĩ được công nhận tốt nghiệp, cấp bằng tiến sĩ và cấp chứng chỉ. ĐIỀU 69:Học viên thạc sĩ nếu thuộc một trong những tình hình dưới đây, thì buộc phải cho thôi học: 1. Đã hết thời hạn theo học, nhưng vẫn chưa hoàn thành đủ số môn học và học phần cần học hoặc chưa thông qua những kỳ thi theo quy định của biện pháp thi lấy bằng của nhà trường. 2. Đã hết thời hạn theo học, nhưng vẫn chưa đáp ứng được những điều kiện được tốt nghiệp theo quy định của viện đào tạo sau đại học đang theo học. 3. Thi trượt kỳ thi lấy bằng, không phù hợp quy định thi lại hoặc phù hợp quy định thi lại, sau khi thi lại 1 lần vẫn không đạt yêu cầu. 4. Người có hạnh kiểm không đạt yêu cầu. 5. Quá thời hạn vẫn chưa làm thủ tục đăng ký hoặc quá thời hạn nghỉ học tạm thời nhưng không đi học trở lại. 6. Tư cách nhập học xét duyệt không đạt điều kiện. 7. Luận văn, sáng tác, tác phẩm trưng bày triển lãm hoặc báo cáo bằng văn bản, báo cáo kỹ thuật có tình trạng sao chép hoặc gian lận, đã được xác minh sau khi điều tra. CHƯƠNG V: TỐT NGHIỆP, BẰNG CẤP ĐIỀU 70:Học viên thạc sĩ đã hoàn thành đủ số môn và số học phần trong thời hạn theo học quy định, cũng đã thông qua các kỳ thi theo quy định thuộc Biện pháp thi lấy bằng nhà nhà trường, điểm hạnh kiểm các học kỳ đều đạt yêu cầu, thìphê chuẩn được tốt nghiệp, cấp chứng nhận trình độ thạc sĩ và cấp bằng chứng nhận. ĐIỀU 71:Trường hợp không có quy định đặc biệt tại phần này, sẽ thực hiện theo các nội dung liên quan tại Phần II của quy chế này. PHẦN V: QUẢN LÝ HỒ SƠ HỌC SINH SINH VIÊ N ĐIỀU 72:Họ tên và ngày tháng năm sinh của học sinh viên viên đã đăng ký theo hồ sơ học sinh viên viên của nhà trường, đều căn cứ vào thông tin khi học sinh sinh viên được xét tuyển hoặc được phân bổ nhập học và giấy tờ chứng nhân tư cách nhập học đã nộp. ĐIỀU 73:Các thông tin của học sinh sinh viên gồm lớp,(tổ) khoa theo học tại nhà trường, năm học thứ mấy và thành tích, ngoài ra còn gồm thông tin đăng ký, nghỉ học tạm thời, đi học trở lại và thôi học, đều dựa trên thông tin của các mẫu đơn sổ sách ban đầu của Phòng Giáo vụ đăng ký hồ sơ học sinh sinh viên và đăng ký thành tích. ĐIỀU 74:Học sinh đang theo học tại trường xin thay đổi họ tên, ngày tháng năm sinh, phải gửi kèm giấy tờ chứng minh của cơ quan hộ tịch, sau khi được Phòng Giáo vụ phê duyệt mới được sửa đổi, và được đưa vào kiểm tra quản lý. Những học sinh sinh viên đã tốt nghiệp (từng theo học nhưng không tốt nghiệp) sửa đổi những thông tin nêu trên, các giấy tờ chứng minh, thủ tục đều giống với học sinh đang theo học tại trường. PHẦN VI: CÁ C QUY TẮC PHỤ ĐIỀU 75:Số học phần của các môn mà học sinh sinh viên đã theo học, tháng và năm tốt nghiệp và trình độ được cấp chứng nhận (hoặc thông tin thôi học) và hồ sơ học sinh sinh viên sẽ được thiết lập và lưu giữ vĩnh viễn. ĐIỀU 76:Trong thời gian theo học tại nhà trường, trường hợp học sinh sinh viên phải ra nước ngoài tu nghiệp, phải thực hiện theo quy định những điểm chính về thành tích học tập, hồ sơ của học sinh sinh viên nhà trường ra nước ngoài tu nghiệp. Những điểm chính về thành tích học tập, hồ sơ của học sinh sinh viên nhà trường ra nước ngoài tu nghiệp sẽ được lập riêng. ĐIỀU 77:Những điều chưa được nêu trong quy chế này, sẽ thực hiện theo pháp lệnh liên quan của Bộ Giáo dục. ĐIỀU 78:Quy chế đào tạo này sau khi được hội nghị nhà trường thông qua sẽ trình lên để hiệu trưởng ký duyệt, và trình lên cho Bộ Giáo dục sau khi thẩm tra sẽ công bố thi hành, khi sửa đổi nội dung cũng thực hiện tương tự. Hội nghị nhà trường ngày 3-9-1999 thông qua Hội nghị nhà trường ngày 29-10-2001 sửa đổi thông qua Công văn số Tai (90) Ji (4) Zi 90158420 của Bộ Giáo dục ngày 13-11-2001 để tham khảo đối chiếu Hội nghị nhà trường ngày 26-6-2002 sửa đổi thông qua Công văn số Tai (91) Ji (4) Zi 91061224 của Bộ Giáo dục ngày 8-5-2002 để tham khảo đối chiếu Công văn số Tai (91) Ji (4) Zi 91109385 của Bộ Giáo dục ngày 26-7-2002 để tham khảo đối chiếu Hội nghị nhà trường ngày 21-1-2003 sửa đổi thông qua Công văn số Tai Ji (4) Zi 0920022452 của Bộ Giáo dục ngày 3-3-2003 để tham khảo đối chiếu Hội nghị nhà trường ngày 24-2-2004 sửa đổi thông qua Hội nghị nhà trường ngày 18-5-2004 sửa đổi thông qua Công văn số Tai Ji (4) Zi 0930076188 của Bộ Giáo dục ngày 21-6-2004 để tham khảo đối chiếu Hội nghị nhà trường ngày 31-5-2005 sửa đổi thông qua Hội nghị nhà trường ngày 15-11-2005 sửa đổi thông qua Hội nghị nhà trường ngày 13-12-2005 sửa đổi thông qua Hội nghị nhà trường ngày 26-9-2006 sửa đổi thông qua Công văn số Tai Ji (4) Zi 0960014815 của Bộ Giáo dục ngày 26-1-2007 để tham khảo đối chiếu Hội nghị nhà trường ngày 24-6-2008 sửa đổi thông qua |
More text goes here.
